Liên kết

Diễn đàn
Truongtructuyen
Nhap diem
Bo giao duc
So giao duc Long an

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 67

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 66


Hôm nayHôm nay : 209

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 25466

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 930028

Trang nhất » Tổ Thể dục - GDQP » Truyền thống

Thí sinh đã nộp phiếu thay đổi NV vào tài khoản xem lại NV đã thay đổi đúng chưa. Nếu có sai sót báo lại ngay



Chính sách bảo vệ biên cương của vương triều Lý

Thứ sáu - 23/01/2015 20:36
Chính sách bảo vệ biên cương của vương triều Lý
 


Vào thế kỷ XI, triều Tống là một đế chế lớn mạnh ở phương Đông, nhưng vẫn bị đe dọa bởi sự bành trướng của hai nước Liêu và Hạ phía Bắc Trung Quốc. Vì vậy, vua quan triều Tống phải tập trung lực lượng lo đối phó với nguy cơ bị xâm lấn từ phía Bắc. Tuy rất muốn triển khai việc mở mang lãnh thổ xuống phía Nam, nhưng khi đó "lực bất tòng tâm", hơn nữa, thất bại ê chề của cuộc xâm lược năm 981 trước quân dân Đại Việt (triều Tiền Lê), khiến cho nhà Tống và biên thần e dè, đành phải áp dụng chính sách hòa hoãn với nước ta.
 
Từ năm 1068, Vương An Thạch lên nắm giữ chức Tể tướng, đã thực hiện một số cải cách về chính trị, kinh tế, quốc phòng, tăng cường sức mạnh toàn diện của nhà Tống. Mặt khác, chính sách đối ngoại của vương triều này cũng được điều chỉnh theo hướng "Tiên Nam, hậu Bắc", tức là chủ động tạm thời hòa hiếu với hai nước Liêu, Hạ ở phía Bắc, dồn sức để tấn công xuống Đại Việt ở phía Nam.
Năm 1072, vua Lý Thánh Tông mất, Lý Nhân Tông lên ngôi khi mới 7 tuổi. Nội bộ triều Lý lúc này xuất hiện nhiều mối bất hòa trong cung đình. Các triều thần cùng vua Tống lợi dụng thời cơ liền phát động một cuộc chiến tranh, nhằm thực hiện việc khoa trương thanh thế quân sự, đồng thời chinh phạt triều Lý ở phía Nam. Để chuẩn bị lực lượng và địa bàn cho lần tấn công này, triều Tống đã tiến hành xây dựng hệ thống căn cứ quân sự và dự trữ hậu cần tại thành Ung Châu (Nam Ninh hiện nay) cùng các cảng tại châu Khâm, châu Liêm (Quảng Tây), chú trọng tới các trại vùng giáp biên giới hai nước Đại Việt và Tống. Đặc biệt, triều Tống còn thực hiện một thủ đoạn nham hiểm là lôi kéo vua Chăm-pa về phía mình nhằm tạo thành một gọng kìm phía Nam đánh vào Đại Việt, mặt khác lại tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc các tù trưởng thiểu số vùng biên cương phía Bắc.
Triều Lý với các vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và chủ tướng quân sự Thái úy Lý Thường Kiệt đã chủ động đối phó và thực thi những kế sách nhằm ngăn chặn trước để làm thất bại ý đồ của kẻ địch. Chủ trương "Tiên phát chế nhân" (hành động trước để khắc chế đối phương) hay như cách nói của Lý Thường Kiệt: Ngồi đợi giặc không bằng đem quân ra trước để bẻ gãy mũi nhọn của giặc đã được triều đình và quân dân Đại Việt thống nhất hành động. Ngay từ năm 1069, đích thân vua Lý Thánh Tông cùng Lý Thường Kiệt chỉ huy quân đánh thắng bọn xâm lược Chăm-pa, ngăn ngừa được hiểm họa rình rập xâm lấn ở phía Nam. Đồng thời, triều Lý thực thi chủ trương tranh thủ các tù trưởng người dân tộc thiểu số và chính sách biên cương tích cực đã tăng cường sức mạnh cho khối đoàn kết dân tộc.
Cuối năm 1075, sau thời gian chuẩn bị lực lượng cùng hậu cần đầy đủ, quân đội của nhà Lý bất ngờ tấn công vào hệ thống căn cứ quân sự dọc biên giới với mục tiêu chính là thành Ung Châu. Chỉ huy cuộc tấn công này là Thái úy Lý Thường Kiệt với đội quân chủ lực là thủy quân, kết hợp với đội quân bộ do Tông Đản dẫn đầu với số quân tham chiến khoảng 10 vạn người. Quân thủy của Lý Thường Kiệt vượt biển đánh chiếm châu Khâm, châu Liêm và bao vây thành Ung Châu. Sau 42 ngày vây hãm và công phá, ngày 1/3/1076, quân triều Lý chiếm được thành Ung Châu, tiến hành phá hủy thành lũy và toàn bộ hệ thống căn cứ chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Sau đó, Lý Thường Kiệt nhanh chóng dẫn quân về nước, gấp rút chủ động lo ứng phó với cuộc xâm lược của triều Tống.
Cuối năm 1076, cuộc xâm lược của quân Tống bắt đầu. Trước thế mạnh ban đầu của quân Tống và các thủ đoạn ly gián, mua chuộc, dụ dỗ của nhà Tống, các tuyến phòng thủ miền núi do các tù trưởng phụ trách đã thất thủ và một số tù trưởng đầu hàng giặc. Đó là trường hợp Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Hoàng Kim Mãn ở Môn Châu. Cánh quân của Phò mã Thân Cảnh Phúc ở Lạng Châu phải đương đầu với đạo quân chủ lực của Quách Quỳ và đã chiến đấu rất dũng cảm. Quân Tống từ Tư Minh, Bằng Tường tiến vào châu Quang Lang (Lạng Sơn), bị chặn đánh quyết liệt ở ải Quyết Lý (Nhân Lý, huyện Chi Lăng, Lạng Sơn). Chặn địch ở đây là cánh tiền quân của Thân Cảnh Phúc và một bộ phận quân triều đình, có voi chiến yểm trợ. Sau khi vượt qua ải Quyết Lý, quân Tống chiếm được trị sở châu Quang Lang (có lẽ ở xã Quang Lang, gần Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hiện nay).
Phía trước quân Tống là đoạn đường hiểm trở, len giữa núi rừng, phía Tây là vách núi đá vôi dựng đứng của dãy Bắc Sơn (sau này gọi là núi Cai Kinh). Con đường chính đi qua ải Giáp Khẩu tức ải Chi Lăng, là nơi mà năm 981, tướng Hầu Nhân Bảo đã bị nhà Tiền Lê phục kích tiêu diệt. Tại đây, quân của triều đình cùng với quân bản bộ của Phò mã Thân Cảnh Phúc bố trí mai phục sẵn. Quách Quỳ dò biết quân phục kích của nhà Lý nên sai tướng Tu Kỷ dùng kỵ binh theo đường tắt vòng về phía Tây, qua Vạn Linh (thuộc huyện Chi Lăng giáp huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn) tiến xuống bờ Bắc thượng lưu sông Cầu (Thái Nguyên). Một bộ phận của quân Tống khác tiến sang phía Tây uy hiếp mặt Nam ải Giáp Khẩu. Quân đội nhà Lý phải rút lui về phía Đông Nam để hợp lực bảo vệ phòng tuyến sông Như Nguyệt. Riêng đội quân của Phò mã Thân Cảnh Phúc vẫn ở lại tiếp tục cuộc chiến đấu tiêu hao lực lượng địch.
Ngày 18/1/1077, quân Tống đến sông Như Nguyệt đã bị chặn đứng trước phòng tuyến lợi hại của Lý Thường Kiệt. Tại đây, Lý Thường Kiệt đã tổ chức phòng ngự, đánh lui hai cuộc vượt sông tiến công về phía Thăng Long của quân Tống. Bị giam chân ở miền núi rừng phía Bắc, thủy quân bị ngăn chặn ở ngoài biển, không vào tiếp ứng được, quân Tống ở Bắc phòng tuyến sông Như Nguyệt càng ngày càng bị dồn vào tình thế khó khăn vì thiếu lương thực và quân lính bị tiêu hao, tinh thần sa sút. Trong vùng quân Tống chiếm đóng, quân dân ta, nhất là các dân tộc miền núi vẫn hoạt động theo lối đánh phân tán, đánh lẻ rất hiệu quả, trong đó nổi bật lên là hoạt động của Phò mã Thân Cảnh Phúc ở động Giáp. Đoạn ghi chép vắn tắt của thư tịch Trung Quốc là sách Quế hải ngu hành chí của Phạm Thành Đại cho thấy, sau khi quân Tống chiếm được Quang Lang, viên tri châu Quang Lang, con rể vua là Phò mã Thân Cảnh Phúc đã lánh vào rừng núi quê hương, lợi dụng địa hình hiểm trở để tiếp tục cuộc chiến đấu theo phương thức du kich, khiến kẻ địch "ăn không ngon, ngủ không yên".
Vùng động Giáp nằm trên con đường giao thông bộ thuận lợi nhất giữa Đại Việt và đất Tống. Đây là con đường trạm dịch, các sứ giả hay qua lại, nối liền Ung Châu với Thăng Long. Quân Tống ở Bắc sông Như Nguyệt phải giữ con đường huyết mạch này để thường xuyên liên lạc với triều đình qua Ung Châu và để vận chuyển tiếp tế lương thực. Hoạt động của Thân Cảnh Phúc hẳn gây cho đối phương nhiều khó khăn và góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Thân Cảnh Phúc đã hy sinh trong chiến đấu và được nhân dân tôn vinh là vị Thiên Thần./.
Theo bienphong.com.v
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

                                 TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU THỌ

      Địa chỉ: ấp Phước Tú, xã Thanh Phú, huyện Bến Lức, tỉnh Long An
      ĐT:  0723.891575
      Fax: 0723.891931
      Email: c3nguyenhuutho.longan@moet.edu.vn

      HIỆU TRƯỞNG: thầy PHAN VĂN TOÀN


Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Kế hoạch thăm quan - du lịch hè?

Nha trang - Đà lạt.

Phú Quốc.

Côn Đảo.

Vũng tàu.

Ý kiến khác...

Hỗ trợ trực tuyến

Mr. Trung
0919071984

Lịch công tác

  • Họp hội đồng sư phạm (05.02.2015)

  • Họp tổ bộ môn (29.01.2015)

Học trực tuyến

Học trực tuyến

Thời khóa biểu 2016

Thời khóa biểu 2016